Hiển thị các bài đăng có nhãn Dược liệu nên trồng. Hiển thị tất cả bài đăng
[giaban]5,000 đ[/giaban][giacu]8,000 đ[/giacu] [tomtat]
ĐƠN VỊGIÁ (VNĐ)
1 cây giống5,000 đ
Số lượng lớnLiên hệ (giá sỉ)
[/tomtat] [chitiet]


Nội dungCHI tiết
Tên khoa học:Smilax glabra Roxb
Họ:Kim cang
Tên gọi khác:Thổ phục linh, Dây chắt, Dây khum, Cậm cù, Rau tập tàng, Khúc khắc
Tên vị thuốc:Thổ phục linh


Mô tả: Dây leo trườn dài 4-5m (tới 10m), có nhiều cành mảnh không gai. Rễ củ vặn vẹo. Lá mọc so le, hình trái xoan bầu dục dài 5-12cm, rộng 1-5cm, mang 2 tua cuốn do lá kèm biến đổi, thường tiêu giảm thành mũi nhọn ngắn, có khi kéo dài; cuống lá dài 1cm; gân chính 3, hình cung. Cụm hoa ở nách lá. Tán đơn độc có 20-30 hoa. Hoa màu lục nhạt, cuống hoa dài hơn cuống tán. Hoa đực và hoa cái riêng rẽ. Quả mọng, hình cầu, gần như 3 góc, khi chín màu tím đen, chứa 3 hạt.

Cây ra hoa tháng 5-7, quả tháng 8-12.  

Bộ phận dùng: Thân rễ - Rhizoma Smilacis Glabrae, thường gọi là Thổ phục linh.

Nơi sống và thu hái: Loài của Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Ðài Loan, Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở nước ta cây mọc ở vùng đồi núi, thung lũng, rừng thưa, leo lên các lùm bụi, phổ biến từ Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An tới Kon Tum, Lâm Ðồng, Khánh Hoà, Bình Thuận. Người ta thu hái thân rễ tươi quanh năm, tốt nhất là vào mùa hạ; cắt bỏ rễ con và gai, phơi hoặc sấy khô; hay có thể rửa sạch, ủ mềm 3 ngày rồi thái mỏng, phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học: Lá và ngọn non chứa theo tỷ lệ g%: nước 83,3; protein 2,4; glucid 8,9; xơ 2,2; tro 1,2 và theo mg%: caroten 1,6; vitamin C 18. Trong thân rễ có nhiều tinh bột và có (-sitosterol, stigmasterol, smilax saponin, tigogenin.


Hình 2458. Thổ phục linh

Gốc cây với thân rễ; Ngọn cây mang hoa.

Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt, hơi chát, tính bình; có tác dụng khư phong giải độc, tiêu thũng, tán kết, lợi gân cốt, kiện tỳ vị.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa: 1. Tiêu hoá không bình thường, đau bụng ỉa chảy; 2. Viêm thận, viêm bàng quang; 3. Phong thấp, viêm khớp, đòn ngã tổn thương; 4. Tràng nhạc, mụn nhọt độc, lở ngứa, viêm mủ da, giang mai; 5. Giải độc thuỷ ngân và bạc. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc, cao nước hay hoàn tán. Không dùng nước trà để uống thuốc.

Ở Ấn Độ, nước sắc rễ tươi dùng trị đau bệnh hoa liễu và các vết loét.


Đơn thuốc:

1. Viêm mủ da: Thổ phục linh 30g, Kim ngân 15g, Cam thảo 15g sắc uống.

2. Phong thấp, gân xương đau nhức, tê buốt; Thổ phục linh 20g. Thiên niên kiện, Ðương quy đều 8g, Bạch chỉ 6g, Cốt toái bổ 10g, sắc uống.

3. Giang mai: Thổ phục linh 40g, Hà thủ ô 16g, vỏ Núc nác 16g, gai Bồ kết đốt tồn tính 8g, Ké đầu ngựa 12g sắc uống.

4. Phong thấp khớp: Hà thủ ô đỏ 8g, Sâm bố chính 8g, Thổ phục linh 8g, Ðỗ trọng 6g, Cỏ xước 6g, Tang ký sinh 8g, Vòi voi 8g, Cây lá lốt 6g, Mắc cỡ gai 6g, Dây đau xương 6g, sắc uống hoặc tán bột, luyện viên. (Kinh nghiệm của Lương y Ðỗ Văn Trạnh ở Long Xuyên).

Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm. Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:


TRUNG TÂM GIỐNG DƯỢC LIỆU XUÂN ÁI
Điện thoại: 0979 020 619 - 0931 651 424
Email: duoclieuxuanai@gmail.com
Website: www.giongduoclieu.com
Vườn ươm: thôn Bóng Bưởi, xã Xuân Ái, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
[/chitiet]
[hot] Nên trồng [/hot][video]

[/video] [danhgia][/danhgia]
[giaban]10,000 đ[/giaban][giacu]15,000 đ[/giacu] [tomtat]
ĐƠN VỊGIÁ (VNĐ)
1 cây giống10,000 đ
Số lượng lớnLiên hệ (giá sỉ)
[/tomtat] [chitiet]





Nội dungCHI tiết
Tên khoa học:Lonicera Japonica
Họ:Cơm cháy
Tên gọi khác:Nhẫn đông,
Tên vị thuốc:Kim ngân hoa

Mô tả: Lá nguyên, mọc đối. Phiến lá hình trứng dài 4-7cm, rộng 2-4cm, cả hai mặt lá đều có lông mịn. Hoa mọc từng đôi một ở các nách lá gần ngọn. Khi mới nở, cánh hoa màu trắng, sau chuyển sang vàng nhạt, mùi thơm nhẹ 5 cánh hoa dính liền nhau thành ống ở phía dưới, miệng ống có 2 môi, 5 nhị thò ra ngoài cánh hoa. Bầu dưới. Quả hình trứng, dài chừng 5mm, màu đen.


Mùa hoa tháng 3-5, quả tháng 6-8.

Bộ phận dùng: Hoa và thân dây - Flos et Caulis Lonicerae Japonicae; thường gọi là Kim ngân hoa - Nhẫn đông

Nơi sống và thu hái: Loài của miền Đông Á ôn đới (Nhật bản, Triều tiên, Trung quốc), có mọc hoang ở vùng đông bắc của nước ta (Cao bằng, Lạng sơn, Quảng Ninh) và thường được trồng ở miền đồng bằng trung du và miền núi từ Bắc vào Nam. Người ta dùng những hom thân cành trồng vào tháng 9-10 hoặc tháng 2-3. Sau một năm, cây đã ra hoa. Khi hoa sắp chớm nở thì thu hái; nên hái vào khoảng 9-10 giờ sáng (lúc này sương đã ráo), nhặt bỏ tạp chất, đem tãi mỏng phơi trong râm mát hoặc sấy nhẹ đến khô. Dây lá có thể thu hái quanh năm, thái nhỏ, phơi khô, bảo quản nơi khô ráo, tránh ẩm.


Thành phần hoá học: Cây chứa tanin và một saponin. Hoa chứa một flavonoit là scolymosid lonicerin) và một số carotenoid (S. caroten, cryptoxanthin, auroxanthin), ở Ấn độ, người ta cho biết có luteolin và i-inositol. Quả mọng giàu carotenoid mà phần lớn là cryploxanthin. Lá chứa một glucosid gọi là loganin và khoảng 8% tanin.

Tính vị tác dụng: Kim ngân có vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng. Cây có tác dụng hạ nhiệt, lợi tiêu hoá và chống lỵ. Nước sắc Kim ngân có tác dụng kháng khuẩn, tác dụng trêu chuyển hoá chất béo, thêm đường huyết và chống choáng phản vệ, không có độc tính.

Công dụng: Thường dùng trị mụn nhọt, ban sởi, mày đay, lở ngứa, nhiệt độc, lỵ, ho do phế nhiệt. Người ta còn dùng Kim ngân trị dị ứng (viêm mũi dị ứng và các bệnh dị ứng khác) và trị thấp khớp. Ngày dùng 6-15g hoa dạng thuốc sắc hoặc hãm uống. Nếu dùng dây thì lấy lượng nhiều hơn 9-13g. Cũng có thể ngâm rượu hoặc làm thuốc hoàn tán. Có thể chế thành trà uống mát trị ngoại cảm phát sốt, ho, và phòng bệnh viêm nhiễm đường ruột, giải nhiệt, tiêu độc, trừ mẩn ngứa rôm sẩy.

Đơn thuốc:

1. Thuốc tiêu độc: Kim ngân, Sài đất, Thổ phục linh, mỗi vị 20g và Cam thảo đất 12g, sắc uống.

2. Chữa mẩn ngứa, mẩn tịt, mụn nhọt đầu đinh: Kim ngân hoa 10g, Ké đầu ngựa 4g, nước 200ml, sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.

3. Chữa cảm sốt mới phát, sốt phát ban hay nổi mẩn, lên sởi: Dây Kim ngân 30g, Lá dâu tằm (bánh tẻ) 20g, sắc uống.



4. Chữa nọc sởi: Kim ngân hoa và rau Diếp cá, đều 10g, sao qua, sắc uống. Hoặc Kim ngân hoa 30g, Cỏ ban 30 g, dùng tươi giã nhỏ, thêm nước gạn uống, nếu dùng dược liệu khô thì sắc uống.


Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm. Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:


TRUNG TÂM GIỐNG DƯỢC LIỆU XUÂN ÁI
Điện thoại: 0979 020 619 - 0931 651 424
Email: duoclieuxuanai@gmail.com
Website: www.giongduoclieu.com
Vườn ươm: thôn Bóng Bưởi, xã Xuân Ái, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
[/chitiet]
[hot] Cực HOT [/hot][video]

[/video] [danhgia][/danhgia]
[giaban]2,000 đ[/giaban][giacu]3,000 đ[/giacu] [tomtat]
ĐƠN VỊGIÁ (VNĐ)
1 cây giống2,000 đ
Số lượng lớnLiên hệ (giá sỉ)
[/tomtat] [chitiet]

Nội dungCHI tiết
Tên khoa học:A. Longiligulare T.L.Wu
Họ:Gừng
Tên gọi khác:Sa nhân, Mè trê bà, Dương xuân sa 
Tên vị thuốc:Sa nhân



Mô tả: Cây thảo cao 2-2,5m, có thân rễ bò ngang mang vẩy và rễ phụ, tạo ra những thân khí sinh, loại mang lá, loại mang hoa. Lá mọc so le, xếp 2 dãy; có bẹ dài, phiến trải ra, hình xoan thon, dài đến 40cm, rộng 8cm, hai mặt không lông; cuống ngắn. Cụm hoa cao 6-8cm, trải ra trên mặt đất, ở gốc có vẩy và có những lá bắc mọc so le; hoa thưa; 5-10, màu vàng vàng; đài 17mm, có 3 răng; tràng hoa hình ống, có phiến chia 3 thuỳ thuôn và dài 13mm; nhị có chỉ nhị dài bằng bao phấn; cánh môi dạng mo, đầu lõm, có 2 nhị lép ở gốc. Quả hình trái xoan dài 1,5-cm, rộng 1,2-1,5cm phủ gai nhỏ cong queo.



* Giá trị sử dụng

Bộ phận sử dụng là quả, đây là loại dược liệu quý có vị cay ngọt, tính ôn, vào các kinh tỳ, thận và vị, có tác dụng hành khí, điều trung, hòa vị, làm cho tiêu hóa dễ dàng.

* Đặc điểm hình thái

Sa nhân là loài cây thân thảo, sống lâu năm dưới tán rừng. Thân cây Làm bằng lá. Lá hình mác, không có cuống, không lông.. Rễ chùm phân bố lớp đất mặt. Hoa lưỡng tính, tỷ lệ kết quả < 30%. Sa nhân mọc thành khóm nhiều cây, cây nọ cách cây kia 10 - 20 cm. Sau khi trồng 2 - 3 năm, mỗi nhánh có từ 30 - 50 cây và bắt đầu có quả, là loài cây chịu bóng, thường mọc tự nhiên dưới tán rừng nơi đất ẩm, thoát nước, đất cát pha đến đất thịt. Gặp nhiều ở các tỉnh vùng núi phía Bắc và Đông Bắc.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

* Thời vụ trồng

  Trồng vụ xuân hoặc vụ thu, chọn những ngày râm mát hoặc có mưa nhỏ. Vụ xuân vào  tháng 2 - 3.  Vụ thu vào tháng 7- 8. Ngoài ra, Sa nhân có thể trồng vào cả mùa đông (tháng 11- 12). Thời tiết ít mưa, đất khô phải tưới nhiều, kết quả thu được vẫn rất khả quan.

* Phương thức và mật độ trồng

- Trồng Sa nhân dưới tán rừng trồng

            + Trồng Sa nhân dưới tán rừng là phương thức trồng xen với cây trồng chính như Keo, Mỡ, Xoan…) tận dụng được độ che tán của cây trồng chính để cây sa nhân phát triển.

            + Xử lý thực bì: Tiến hành phát dọn thảm tươi cây bụi, dây leo. Tiếp theo nếu độ che tán cao trên 0,7 phải tiến hành tỉa tán để hạ độ che tan xuống dưới 0,5 -0,6.

            Đào hố trồng theo băng dọc theo hàng cây trồng chính, cách gốc cây trồng chính từ 1 m.

            + Mật độ trồng: Tùy mật độ cây trồng chính mà mật độ trồng sa nhân khác nhau. Nhìn chung khoảng từ 6000 - 9000 cây/ha. Cự ly đào hố trồng Sa nhân là 1 x 1m/1 cây giống.

            + Chăm sóc sau trồng: Ở phương thức này, ta phải chú y duy trì độ che tán ở mức dưới 0,6 .

- Trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên:

            + Xử lý thực bì: Tiến hành chặt bỏ những cây che tán không cần thiết (cây không có giá trị và không phải là cây bảo tồn), phát dọn thảm tươi cây bụi, dây leo. Tiếp theo tiến hành tỉa tán để hạ độ che tan xuống dưới 0,5 -0,6.

            + Tùy điều kiện thực bì mà ta có thể tiến hành trồng theo băng hoặc theo đám. Nhìn trung trong rừng tự nhiên, có nhiều cây có giá trị lấy gỗ và khai thác lâm sản ngoài gỗ cần được lưu giữ nên thường dọn thực bì và trồng sa nhân theo đám. Đào hố theo kiểu so le nanh sấu và cách gốc cây trồng chính khoảng 2 - 4 m (tùy độ che tán và khả năng tỉa tán cây trồng chính).

            + Cự ly đào hố: 1 cây/ 1m2

            + Chăm sóc sau trồng: Ở phương thức này, ta phải chú y duy trì độ che tán ở mức dưới 0,6. 

- Trồng sa nhân dưới tán vườn cây ăn quả hoặc vườn tạp:

+ Xử lý thực bỡ: Trước khi trồng Sa nhân cũng phải chặt bỏ những cây không có ích (ở vườn tạp), tỉa bớt cμnh ở các cây ăn quả nếu có thể.

+ Cây ăn quả là cây tỉa tán hàng năm nên có thể trồng sa nhân theo hàng xen giữa các băng cây ăn quả. Trồng cách gốc cây ăn quả 1 m.

+ Mật độ trồng: khoảng 6000-9000 cây/ha. Cự ly trồng là 1 x 1 m/ 1 cây.

- Trồng Sa nhân trên đất nương dãy đã bỏ hoang đất trống:

+ Loại đất này vốn được khai phá từ rừng, sau nhiều năm trồng chè hoặc canh tác cây lương thực, đất bị xói mòn, cây trồng năng suất kém nên bỏ hoang; cỏ dại, cây bụi và cây gỗ nhỏ xâm lấn. Độ dốc dưới 300  .

+ Đối với phương thức trồng thuần loại Sa nhân tím trên đất rừng sau nương rẫy phải tiến hμnh chặt phát bỏ gần như toàn bộ các cây bụi và gỗ nhỏ. Chỉ chừa lại một số cây gỗ có tán lá thoáng (tránh gió bão làm đổ) với tổng độ tμn che từ 10 - 20% (tối đa 30%). Cuốc bỏ gốc cây, lượm bớt đá, rẫy cỏ phơi khô xong đốt lấy tro.

+ Mật độ trồng: Trồng với mật độ khoảng 9500 - 9800 cây/ha. Cự ly trồng là 1 x1m  trồng 1 cây.

Chú ý: Trong trồng Sa nhân ta nên tiến hành chia lô, mỗi lô 1000 m2. Cần thiết kế các lối đi lại để vận chuyển cây giống, phân và đi lại chăm sóc thuận tiên

* Làm đất, bón lót và trồng cây

            - Làm đất: Cuốc lật đất toàn bộ diện tích, nhằm phơi đất, diệt bớt trứng côn trùng và hạt cỏ.

 Đào hố: Đào hố có kích thước rộng 30 x 20 x 30 cm.

- Bón lót: Bón lót 1,5 - 2kg phân chuồng hoai cho mỗi hố, dùng cuốc trộn đều phân với đất, lấp một lớp đất mỏng lên trên miệng hố.

            - Trồng cây: Dùng cuốc bới lại các hố đã được bón lót khi làm đất. Đập đất cho nhỏ, trộn đều với phân lót, dùng dao sắc cắt túi bầu (nếu trồng cây bầu), đặt cây giống theo hướng thẳng đứng, mỗi hố trồng một nhánh hay một cây con, lấp đất 6-10 cm và dẫm chặt gốc. Khi trồng nếu gặp trời nắng thì phải tưới thẫm nước ngay để tránh mất nước và rễ tiếp xúc với đất được tốt.
* Chăm sóc sau trồng

            * Tưới nước:

Sa nhân tím là cây ưa ẩm, vì vậy trong trồng trọt cần chú ý khâu tưới nước, nhất là khi cây còn non. Khi trồng Sa nhân tím nếu không có mưa, đất khô phải tưới ngay. Trong vòng 2 - 3 tháng đầu cần thường xuyên tưới nước, để đất luôn ẩm, cây giống giữ được tươi mới có thể nảy mầm được.

Khi cây chồi đã mọc lên khỏi mặt đất cho đến khi đẻ nhánh, tạo thành khóm nhỏ, việc tưới nước giảm dần, thậm chí không cần tưới. Tuy nhiên, nếu Thời tiết khô hanh, năng nóng kéo dài thỡ cần phải tưới để cây sinh trưởng tốt.

Cách tưới nước lúc mới trồng là trực tiếp vào gốc; khi cây đã mọc và thành khóm nhỏ nên dùng vòi phun lên cả cây.



*  Trồng giặm: 

Vì một lý do nào đó (do chất lượng cây giống hoặc chăm sóc không đều), sẽ có một số nhánh bị chết, không mọc chồi. Khi phát hiện thấy, cần lấy các cây giống dự trữ, hoặc tách bớt  một nhánh từ các khóm khác đem trồng giặm bổ sung vào ngay.

Cây trồng giặm cần chú ý chăm sóc tốt để cho cây nhanh hồi phục và nảy mầm.

* Làm cỏ, bón phân

Làm cỏ:

Cách làm là dùng cuốc rẫy bỏ cỏ, nhưng xung quanh gốc Sa nhân thì dùng tay nhổ. Do cây Sa nhân mọc nông, thân rễ nổi trên mặt đất, bởi vậy, trong quá trình chăm sóc không cần vun gốc. Cỏ dại rẫy ra phơi dưới nắng sẽ khô sau thành mùn cho đất

Trong vòng 1,5   2 năm đầu tiên, khi cây Sa nhân chưa phủ kín mặt đất, cứ 2 - 3 tháng làm cỏ một lần. Thậm chí trong 6 tháng đầu tiên 1 - 1,5 tháng một lần.  Khi cây Sa nhân đẻ nhiều nhánh, lan tỏa từ khóm  nọ sang khóm kia, mặt đất được che phủ, cỏ dại sẽ không mọc được nữa.

Bón thúc phân: Mỗi năm bón 1 lần

Năm 1: Bón  thúc  bằng phân  NPK-S 10:5.3.13 với lượng 1 tấn/ha, bón vào tháng 6-7 (sau khi làm cỏ).

Năm thứ 2 và 3 mỗi ha bón 1 tấn NPK cộng thêm 1 tấn phân vi sinh trộn đều, bón vào tháng 3 (trước khi ra hoa).

Cách bón là rắc đều quanh gốc, khi sa nhân đã mọc dầy thành thảm thì rắc phân toàn bộ diện tích có sa nhân.

Làm vệ sinh vùng trồng Sa nhân:

 Trong quá trình chăm sóc Sa nhân, hàng năm phải chặt tỉa bớt cành và cây che bóng (sa nhân trồng thuần loại), sao cho độ tán che tổng số chỉ vào khoảng 30% (không để vượt quá 70%).

Trong vòng đời của Sa nhân, mỗi nhánh chỉ tồn tại trong thời gian 2 năm tuổi. Như vậy hàng năm sẽ có các thế hệ các nhánh già tự chết đi. Để tạo điều kiện cho cây ra hoa quả tốt, cần cắt bỏ những nhánh vàng úa (sắp tàn lụi) và vơ bỏ bớt lớp thảm mục dưới gốc (nếu thấy quá dày).

Công việc này cần tiến hành vào tháng 2- 3 hàng năm, trước mùa hoa quả đầu tiên.







* Bảo vệ:

Sa nhân thường bị trâu, bò, dê vào ăn lá.  Khi cây Sa nhân có quả thường bị các loài Rùa, Sóc, Nhím và Chuột ăn hoa và quả. Vì vậy, ta phải làm hàng dào bảo vệ toàn bộ diện tích trồng Sa nhân. Vật liệu làm hàng rào cần giữ được lâu bền, như dây thép gai với cột bê tông hay rào bằng tre hoặc cành cây gỗ. Về sau tốt nhất nên tạo hàng rào bằng cây xanh (Mây).

.* Phòng trừ sâu bệnh

            Hiện tại chưa phát hiện thấy sau bệnh hại Sa nhân tím trồng một cách đáng kể. Ngoại trừ vào giai đoạn cây còn nhỏ (3 - 6 tháng tuổi), bi bọ rùa nhỏ ăn phần thịt lá non và một loại Sâu khoang nhỏ (Prodenia sp.) cuốn lá non.  Tuy nhiên cần phải tiến hành theo dõi thường xuyên để có biện pháp phun trừ sâu bệnh hại ngay từ khi mới phát sinh     

3.Thu hoạch, sơ chế

            - Sau khi trồng khoảng 3-5 năm, có thể thu hái qủa vào các tháng mùa đông là tốt nhất. Chú ý khi thu hoạch cần kết hợp lấy dây thân làm hom giống. Dùng cuốc lấp kín đất vào gốc cây vừa khai thác để mọc thành bụi mới.

            - Qủa thu hoạch về cần phân làm 3 loại. Loại A: đường kính qủa từ 1,2 cm trở lên; Loại B: đường kính qủa từ 0,8 - 1,1 cm trở lên; Loại C: đường kính qủa nhỏ hơn 0,8 cm.

            - Sau khi thu hoạch, rửa sạch đất, tước bỏ phần lõi cứng của qủa rồi đem phơi khô để cất giữ lâu dài.

Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm. Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:


TRUNG TÂM GIỐNG DƯỢC LIỆU XUÂN ÁI
Điện thoại: 0979 020 619 - 0931 651 424
Email: duoclieuxuanai@gmail.com
Website: www.giongduoclieu.com
Vườn ươm: thôn Bóng Bưởi, xã Xuân Ái, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
[/chitiet]
[hot] Nên trồng [/hot][video]

[/video] [danhgia][/danhgia]
[giaban]2,500,000 đ[/giaban][giacu]3,000,000 đ[/giacu] [tomtat]
ĐƠN VỊGIÁ (VNĐ)
1 kg hạt giống2,500,000 đ
Số lượng lớnLiên hệ (giá sỉ)
[/tomtat] [chitiet]

NỘI DUNGCHI TIẾT
Tên khoa học:Platycodon grandyflorum (Jacq.) A.DC
Họ:Hoa chuông (Campanulaceae)
Tên gọi khác:Bạch dược, kết cánh, cánh thảo
Tên vị thuốc:Cát cánh

GIỐNG CÂY CÁT CÁNH
Cát cánh - Platycodon grandiflorum (Jacq) A. DC, thuộc họ Hoa chuông - Campanulaceae.

Mô tả: Cây thảo sống lâu năm cao 50-80cm. Rễ phình thành củ nạc, đôi khi phân nhánh, vỏ màu vàng nhạt. Lá gần như không có cuống, các lá phía dưới mọc đối hoặc mọc vòng 3-4 lá, các lá phía trên nhỏ, có khi mọc so le; phiến lá hình trứng, mép có răng cưa to, dài 2,5-6cm, rộng 1-2,5cm. Hoa mọc đơn độc hoặc tạo thành bông thưa ở nách lá hay gần ngọn; đài hình chuông dài 1cm, màu lục; tràng hình chuông, màu lam tím hay trắng. Quả nang, hình trứng, nằm trong đài tồn tại; hạt nhỏ, hình bầu dục, màu nâu đen.

Mùa hoa tháng 7-9, quả tháng 8-10.  
Bộ phận dùng: Rễ, củ - Radix Platycodi; thường gọi là Cát cánh.

Nơi sống và thu hái: Cây của miền ôn đới Bắc: Nga, Trung Quốc, Triều Tiên. Được trồng nhiều ở Trung Quốc. Ta di thực vào trồng ở vùng cao như ở Lào Cai (Sapa, Bắc Hà) và Vĩnh Phú (Tam Đảo). Gần đây, cũng được trồng ở một số nơi thuộc đồng bằng Bắc bộ (Thái Bình...). Cây mọc khoẻ và thích nghi với khí hậu và đất đai của nước ta. Ở đồng bằng có thể gieo trồng vào tháng 10-11, ở miền núi vào tháng 2-3. Nếu gieo vào đất quá khô hay đất quá ướt bị nén chặt thì hạt lâu mọc. Cây trồng ở vùng cao hai năm đã cho thu hoạch, còn trồng ở đồng bằng thì sau một năm đã có thể thu hoạch được. Vào mùa đông khi cây tàn lụi hay sau khi thu quả để làm giống thì chọn ngày nắng ráo, dùng cuốc đào lấy rễ củ, sau khi đã cắt bỏ thân lá, rễ con, rửa sạch đất cát, ngâm vào nước rồi lấy ra dùng dao tre nứa cạo bỏ lớp vỏ ngoài, mang phơi hay sấy khô. Có thể xông lưu huỳnh. Thông thường người ta hay dùng sống nhưng có thể tẩm mật sao qua. Nếu dùng làm hoàn tán thì thái lát sao qua rồi tán bột mịn. Cần bảo quản nơi khô ráo, tránh mốc mọt.

Thành phần hóa học: Trong rễ Cát cánh có các saponin platicodon A, C, D, D2 polygalacin D, D2. Còn có một chất tương tự Inulin.
Tính vị, tác dụng: Vị hơi ngọt, sau đắng, tính bình, có tác dụng thông khí ở phổi, tiêu đờm, làm cho mủ độc vỡ ra ngoài. Người ta đã chứng minh được rằng các saponin của Cát cánh có tác dụng tiêu đờm, phá huyết làm tan máu. Rễ Cát cánh có tác dụng như giảm đau, làm trấn tĩnh, hạ nhiệt, giảm ho và khử đờm. Đồng thời, nó có tác dụng làm dãn các mạch máu nhỏ, làm hạ đường huyết, chống loét và chống viêm.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cát cánh dùng chữa ho có đờm hôi tanh, ho ra máu, viêm đau họng, khản tiếng, hen suyễn, tức ngực, khó thở, nhọt ở phổi, kiết lỵ. Ngày dùng 4-20g, dạng thuốc sắc. Người ta còn dùng Cát cánh chữa mụn nhọt và chế thuốc mỡ dùng ngoài để chữa một số bệnh ngoài da.
Đơn thuốc:

1. Ngoại cảm, ho mất tiếng: Cát cánh, Bạc hà, Mộc thông, Bươm bướm, Chiêu liêu, mỗi vị bằng nhau, 6g sắc uống (Bách gia trân tàng).

2. Ho nhổ ra mủ và nước rãi hôi thối, lồng ngực căng tức: Cát cánh, Cam thảo, Chỉ xác, mỗi vị 4-6g sắc uống.

3. Chữa ho, tiêu đờm: Cát cánh 4 g, Cam thảo 8g, nước 250ml, sắc còn 150ml, chia làm ba lần uống trong ngày.

4. Cam răng, miệng hôi: Cát cánh, Hồi hương, mỗi vị 4g tán bột nhỏ, bôi.

5. Bệnh ngoài da: Cát cánh 6g, Cam thảo 4g, Gừng 2g, Táo ta (quả) 5g, nước 600ml, sắc còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Ghi chú: trường hợp phổi nóng khô háo không nên dùng Cát cánh. Nếu sắc uống phần đầu của rễ củ, nơi giáp với thân cây thì dễ bị nôn.




2. Giống và kỹ thuật làm giống
            Trong sản xuất dược liệu cát cánh chủ yếu được gieo trồng bằng hạt.Khác với một số cây, việc ra hoa không ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất của rễ củ cát cánh.Cát cánh ra hoa kéo dài nên quả không chín đều. Năm thứ nhất trên cây đã xuất hiện hoa quả, nhưng hạt ít và giống chưa tốt, nên thu hạt giống ở cây năm thứ 2 và 3. Thu quả ở những cây to, khỏe, không bị sâu bệnh. Quả Cát cánh chín không đều, khi vỏ quả chuyển sang màu vàng cần thu kịp thời. Quả hái về cần để trong râm 2 – 3 ngày cho chín thêm, rồi phơi nắng nhẹ cho khô, đập lấy hạt và tiếp tục phơi thêm 2 – 3 nắng.
            Tiêu chuẩn hạt giống: Hạt giống có màu đen, bóng, không nhăn nheo; khối lượng của của 1.000 hạt là 0,8 – 1,5g; tỷ lệ hạt chắc trên 80%; tỷ lệ tạp chất < 20%; tỷ lệ nảy mầm trên 60%. Nhiệt độ nảy mầm tối ưu từ 20 - 30°C, thời gian nảy mầm từ 15 – 20 ngày.
            Cát cánh còn có thể nhân giống bằng giâm cành. Vào mùa xuân, chọn cành non mới tái sinh, ngắt bỏ ngọn, cắt thành từng đoạn dài 10 – 15 cm, chấm phần gốc vào bột IBA 0,4% và giâm trong cát ẩm. Ở nhiệt độ 18 - 20°C, cành giâm sẽ ra rễ sau 4 – 6 tuần.Cách này chỉ được áp dụng trong sản xuất giống ở vùng lạnh.


3. Thời vụ gieo trồng
            Cát cánh trồng vào thời kỳ có nhiệt độ thấp để cây sinh trưởng, phát triển tốt trong vụ đông xuân và có hoa quả về mùa hè.
            Hạt cát cánh nảy mầm tự nhiên ở nhiệt độ 25 - 28°C, sau khi gieo từ 15 – 20 ngày. Vì vậy, ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ thường gieo hạt vào tháng 9 – 10, ở miền núi vào tháng 2 – 3 và thu hoạch vào cuối mùa thu, đầu mùa đông năm sau.




4. Kỹ thuật làm đất
            Đất pha cát tơi xốp, thoát nước tốt, không úng ngập, nhiều mùn. Không nên trồng ở đất thịt nặng và đất bạc màu.
            Đất trồng cát cánh cần cày sâu, phơi ải, nhặt sạch cỏ dại, bừa kỹ, lên thành luống cao 25 – 30 cm, mặt luống rộng 0,8 – 1,0 m.
5. Mật độ, khoảng cách trồng
            Mật độ trồng lấy dược liệu: 500.000 cây/ha, trồng khoảng cách 20 x 10 cm.
            Mật độ trồng lấy hạt: 200.000 cây/ha, trồng khoảng cách 20 x 25 cm.
            Có thể dùng phân bón tổng hợp NPK với tỷ lệ tương đương để bón.
            Phương pháp bón phân:
            - Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ + toàn bộ phân lân + ½ lượng phân kali, trộn đều bỏ theo rãnh sau đó lấp đất lại.
            - Bón thúc: Ở đồng bằng và trung du bón thúc 4 lần, lần đầu vào sau lúc tỉa định cây, những lần sau bón vào các tháng 1, 3, và 7. Ở miền núi, năm đầu thúc 3 lần vào các tháng 5, 7 và 9, năm thứ hai bón 2 lần vào các tháng 3 và tháng 7. Phân đạm được chia đều cho các lần bón thúc kết hợp làm cỏ, xới xáo. Trước lúc thu hoạch 1 tháng bón hết lượng phân Ure và phân Kali còn lại.
7. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
            Kỹ thuật trồng:
            Cát cánh là cây chỉ có một rễ hình trụ nên thường được gieo thẳng.Mỗi ha chỉ cần 3 – 4 kg hạt.Trước khi gieo, hạt được trộn với cát hoặc đất bột đẻ gieo cho đều. Gieo xong dùng trấu hay rơm rạ phủ lên trên mặt luống và tưới giữ ẩm thường xuyên. Hạt nảy mầm sau khoảng 15 – 20 ngày.Lúc này cần dỡ bỏ rơm rạ; nếu dùng trấu thì có thể giữ nguyên. Khi cây cao 7 – 10 cm bắt đầu định cây, đảm bảo khoảng cách 20 x 10 cm. Nếu trồng làm giống cần giữ khoảng cách thưa hơn 20 x 25 cm. Để tiết kiệm giống có thể gieo theo hàng đã rạch sẵn trên mặt luống.
Chăm sóc:
            Ruộng cát cánh cần giữ thường xuyên sạch cỏ và độ ẩm vừa phải.Trung bình mỗi tháng làm cỏ và xới xáo 1 lần, đến khi cây giao tán thì thôi. Khi xới xáo cần chú ý không làm đứt rễ .Nếu đất khô cần tưới và khi trời mưa to phải tháo nước kịp thời.
8. Phòng trừ sâu bệnh
            Sâu bệnh hại cát cánh chủ yếu là sâu xám (Agrotis ipsilon).Đặc điểm gây hại và biện pháp phòng trừ như sau:
            Đặc điểm gây hại: Thường gây hại ở thời kỳ cây con. Loài sâu này thường gây hại vào ban đêm, ăn lá non hoặc cắn đứt ngang các thân và cành non. Sâu non màu xám đen hoặc màu nâu xám dọc theo hai bên thân có những chấm đen mờ.
            Biện pháp phòng trừ:
            - Cày, phơi ải đất trước khi trồng 2 tuần để tiêu diệt trứng và nhộng. Làm đất kỹ, sạch cỏ trước khi trồng, làm sạch cỏ quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu.
            - Đối với những ruộng có diện tích nhỏ có thể bắt sâu bằng tay vào buổi sáng sớm hay chiều tối bằng cách bới đất xung quanh gốc cây bị sâu cắn để bắt sâu.
            - Dùng bẫy chua ngọt để bẫy bướm. Cách làm bẫy: Cho 4 phần đường + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước vào trong bình đậy kín, sau 3 – 4 ngày khi thấy mùi chua ngọt thì thêm vào 1% thuốc trừ sâu. Quấn giẻ hay bùi nhùi rơm rạ vào đầu gậy nhúng vào bả cắm trên bờ ruộng. Sau 2 – 3 ngày nhúng lại 1 lần . Bướm trưởng thành sẽ bay vào ăn bả chua ngọt và chết.
            - Ruộng bị sâu hại nặng có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu như: Thiamethoxam (ví dụ Actara 25 WG, 350FS), Abamectin (ví dụ Shertin 3,6 EC, 5,0 EC). Hòa thuốc với nước theo tỷ lệ khuyến cáo ở bao bì, phun vào chiều tối. Nếu mật độ sâu cao nên phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày.
9. Chế độ luân canh
            Cát cánh có thể luân canh với các cây thuốc ngắn ngắn như mã đề hoặc diệp hạ châu, hoặc cây dài ngày như trạch tả, …

10. Thu hoạch, sơ chế và bảo quản
a) Thu hoạch:
            Khi cây bắt đầu lụi là lúc thu hoạch dược liệu. Thông thường đào củ vào mùa thu ở đồng bằng và mùa đông ở miền núi.
b) Sơ chế:
            Rễ củ của những cây đã trồng được 2 năm (vùng cao) hoặc 1 năm (vùng đồng bằng) được loại bỏ thân, lá, rễ con, rửa sạch đất cát. Cạo bỏ lớp vỏ ngoài rồi phơi hay sấy khô.
c) Bảo quản:
            Rễ củ cát cánh dễ bị mốc mọt, cần bảo quản nơi khô ráo. Năng suất trung bình có thể đạt 3 – 4 tấn rễ  khô/ha.


Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm. Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:

TRUNG TÂM GIỐNG DƯỢC LIỆU XUÂN ÁI
Điện thoại: 0979 020 619 - 0931 651 424
Email: duoclieuxuanai@gmail.com
Website: www.giongduoclieu.com
Vườn ươm: thôn Bóng Bưởi, xã Xuân Ái, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
[/chitiet]
[hot] Nên trồng [/hot][/video] [danhgia][/danhgia]